Sáng kiến trong quản lý

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

 

1. Sự cần thiết của đề tài

   Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người - là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ là tấm gương phản ánh văn hoá của mỗi dân tộc. Lênin đã viết: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người”.

          Theo Usinxkin: “Ngôn ngữ là cơ sở của mọi sự phát triển trí tuệ và là kho tàng của mọi kiến thức. Tất cả mọi sự hiểu biết đều bắt đầu từ ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ và trở lại cũng bằng ngôn ngữ.”

Tiếng Việt còn gọi là tiếng phổ thông với tư cách là ngôn ngữ Quốc gia, là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và các cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học. Tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ, là chìa khóa để đón nhận sự phong phú, rộng lớn của kho tàng kiến thức, là phương tiện để trẻ khám phá thế giới với các sự vật, hiện tượng xung quanh mình và tự khẳng định mình trong môi trường đó. Đối với trẻ nhỏ việc phát triển ngôn ngữ tiếng Việt góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của trẻ, đáp ứng nhu cầu giao tiếp của trẻ với mọi người xung quanh. Đồng thời nó là điều kiện giúp trẻ tư duy, học tập, vui chơi phát triển toàn diện.

 Các dân tộc thiểu số của Việt Nam có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình trong sinh hoạt cộng đồng của họ, đồng thời họ cũng sử dụng tiếng Việt để giao tiếp với cộng đồng người Việt trên toàn quốc. Sự giao thoa văn hoá ngôn ngữ làm phong phú thêm cho nền văn hoá của người thiểu số, đồng thời cũng làm thay đổi cuộc sống, kinh tế và vị thế của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt anh em. Có thể nói rằng “Cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta thực sự là một cộng đồng song ngữ” - tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc và tiếng Việt của người Kinh.

Trong thực tế chúng ta đã biết, nhiệm vụ giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của hệ thống giáo dục Quốc dân. Giáo viên mầm non được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủ nghĩa, tuỳ theo mỗi độ tuổi mà giáo dục khác nhau. Tuổi mầm  non trẻ mới bắt đầu trong quá trình học nói, do vậy mà cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ là vô cùng quan trọng.

Thực tế cho thấy chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tiếng Việt của học sinh. Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số khi tới trường, lớp mầm non đều chưa được sống trong môi trường tiếng Việt. Các cháu học sinh người dân tc thiu s thường hay dùng tiếng m đẻ ca trẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhn tiếng Vit, dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô bằng ngôn ngữ tiếng Việt. Chính vì vậy việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề cần được quan tâm, nhằm hình thành và phát triển những kỹ năng cần thiết cho việc học tiếng Việt ở các bậc học tiếp theo.

Tại trường mầm non Hoa Phượng 1, học sinh 98% là người đồng bào dân tộc thiểu số, khả năng nghe và nói tiếng Việt còn hạn chế. Mặc dù cô giáo có kèm cặp nhiệt tình đến mức nào chăng nữa thì trẻ vẫn nói bằng hai thứ tiếng, mà chủ yếu là tiếng mẹ đẻ, nhất là khi trẻ ra khỏi lớp học. Sở dĩ như vậy là do tiếng Việt không phải là một phương tiện sử dụng thường xuyên đối với học sinh dân tộc thiểu số. Ở đây học sinh chỉ dùng tiếng Việt giao tiếp với giáo viên khi cần thiết, còn ngoài ra trẻ vẫn thường xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Chính vì vậy dẫn đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ không thể đạt được kết quả như mong muốn. Đây cùng chính là trăn trở của những người làm công tác giáo dục tại các huyện miền núi.

Chuẩn bị ngôn ngữ cho trẻ vào lớp một là một nhiệm vụ được coi là quan trọng bậc nhất của giáo dục mầm non. Để học được lớp một, trẻ em DTTS không chỉ nói sõi tiếng mẹ đẻ mà nhất thiết phải biết nói tiếng Việt. Bởi vì trẻ sẽ phải học chương trình giáo dục phổ thông quốc gia, chương trình cho mọi trẻ trên toàn quốc. Do đó việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ em DTTS trước khi vào lớp một là cực kỳ quan trọng và cần thiết.

Mặc dù Nhà nước đã có những chương trình và chính sách hỗ trợ tiếng Việt cho học sinh mầm non nhưng trên thực tế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. So với các em miền xuôi, trẻ em chuẩn bị vào lớp một miền núi có quá nhiều thiệt thòi, thiếu thốn. Trong khi đó, theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, học sinh cả nước học cùng một chương trình, bộ sách giáo khoa, cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập... Thực tế cho thấy, học sinh người dân tộc thiểu số càng học lên lớp trên thì khả năng đạt chuẩn chương trình các môn học càng thấp vì nhiều nguyên nhân; trong đó sự thiếu hụt về vốn sống, vốn ngôn ngữ là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp của tình trạng trên.

Vậy làm thế nào để tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số và đặc biệt là trẻ 5-6 tuổi nhằm làm giàu thêm vốn tiếng Việt cho các em, giúp các em lĩnh hội và chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động và đạt được chuẩn kiến thức kỹ năng theo yêu cầu. Là một cán bộ quản lý công tác trên địa bàn xã khó khăn mà 98 % học sinh toàn trường là người dân tộc thiểu số tôi luôn trăn trở và suy nghĩ làm thế nào để có thể làm phong phú hơn vốn từ tiếng Việt cho các em cũng như giúp các em mạnh dạn, tự tin  hơn trong quá trình giao tiếp bằng tiếng phổ thông đồng thời hỗ trợ cho giáo viên trong công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số, vì vậy tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài:  "Một số biện pháp chỉ đạo tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non Hoa Phượng 1".

2. Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu thực trạng khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ 5-6 tuổi tại trường Mầm non Hoa Phượng 1, những hạn chế, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó.

- Đưa ra một số biện pháp chỉ đạo tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.

- Hỗ trợ cho giáo viên trong công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số.

 

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Thực trạng của vấn đề cần giải quyết

1.1.  Đặc điểm tình hình nhà trường

Trường Mầm non Hoa Phượng 1 nằm trên địa bàn thôn Soi Mít thuộc xã Khánh Hiệp - huyện Khánh Vĩnh - tỉnh Khánh Hòa, là trường mầm non công lập được thành lập từ tháng 08 năm 2014, trực thuộc phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Khánh Vĩnh - tỉnh Khánh Hòa;

Tổng số CBQL- GV- NV hiện nay của trường là 19 người

 Trong đó:

+ CBQL là 02 người: Trình độ ĐHSPMN

 + Nhân viên là 09 người.

 + Giáo viên là 08 người.

Đội ngũ giáo viên đều có trình độ đào tạo sư phạm mầm non đạt chuẩn và trên chuẩn, trong đó tỉ lệ đạt trên chuẩn là 7/8 giáo viên chiếm 87,5%.  Hầu hết đội ngũ giáo viên trẻ năng động, nhiệt tình có trách nhiệm trong công tác chủ nhiệm;

Mặc dù trường mới được thành lập từ tháng 8 năm 2014 đến nay nhà trường chưa có cơ sở trường lớp ổn định nhưng tập thể CBQL-GV-NV trường Mầm non Hoa Phượng 1 luôn đoàn kết, nỗ lực phấn đấu khắc phục mọi khó khăn hoàn thành mục tiêu giáo dục. Đặc biệt trường luôn được sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của các cấp lãnh đạo, của chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể.

Học sinh tại trường 98 % là con em đồng bào dân tộc thiểu số. Năm học 2017 -2018  toàn trường có 4 lớp học với 100 học sinh chia làm ba khối lớp: 01 lớp mẫu giáo 3-4 tuổi; 01 lớp mẫu giáo 4-5 tuổi và 02 lớp mẫu giáo 5-6 tuổi. Sự không đồng đều về mặt nhận thức cùng với vốn ngôn ngữ tiếng Việt của học sinh còn hạn chế là một trong những khó khăn lớn ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học của nhà trường.

1.2. Thực trạng khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ 5-6 tuổi tại trường Mầm non Hoa Phượng 1

* Thuận lợi

 Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành.

Đội ngũ giáo viên trẻ nhiệt tình yêu nghề mến trẻ, có khả năng tiếp thu những kinh nghiệm và vận dụng vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, đó là một thuận lợi lớn trong việc thực hiện đề tài.    

Trong năm học 2017-2018, nhà trường thực hiện nghiêm túc quyết định số 1008/QĐ –TTg, ngày 02/6/2016 về đề án “ Tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn đến năm 2025”.

  * Khó khăn

100% học sinh trong lớp là con em người đồng bào dân tộc thiểu số, vốn ngôn ngữ tiếng Việt còn hạn chế nên việc giao tiếp giữa cô và trẻ còn  bất đồng về ngôn ngữ.

Trẻ trong lớp không đồng đều về độ tuổi, lớp học ghép 2 độ tuổi do vậy trình độ nhận thức của trẻ không đồng đều gây khó khăn cho giáo viên trong việc giảng dạy.

        Trường mới thành lập chưa có cơ sở trường chính, đồ dùng, trang thiết bị phục vụ công tác học tập và vui chơi của trẻ còn thiếu thốn.

       Địa hình đi lại khó khăn, việc phân bố dân cư không đồng đều cũng ảnh hưởng nhiều đến công tác giáo dục trong nhà trường.

       Nhiều phụ huynh chưa thành thạo tiếng phổ thông và chưa chú trọng vào việc dạy tiếng phổ thông cho trẻ tại gia đình.

       Đồ dùng phục vụ cho hoạt động dạy ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ chưa phong phú đa dạng, chưa có sự sáng tạo.

       Một số giáo viên còn hạn chế về tiếng dân tộc nên việc phối kết hợp giữa cô và trẻ còn chưa đạt hiệu quả cao.

       Để tiến hành tìm hiểu về thực trạng khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non Hoa Phượng 1 chúng tôi tiến hành trao đổi với giáo viên chủ nhiệm và trò chuyện trực tiếp với trẻ bằng hệ thống nội dung trong  bảng khảo sát và tổng hợp kết quả như sau:

* Bảng 1:  Khảo sát khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ 5-6 tuổi đầu năm học tại trường Mầm non Hoa Phượng 1

Nội dung khảo sát

Kết quả khảo

sát trên trẻ

Trẻ nghe, hiểu và thực hiện được các yêu cầu trong hoạt động tập thể.

20/41 = 48,8%

Trẻ nghe hiểu nội dung truyện kể, truyện đọc phù hợp với độ tuổi.

12/41= 29,3%

Trẻ sử dụng được các từ chào hỏi, tạm biệt, xin phép, cảm ơn, xin lỗi....đúng ngữ cảnh.

20/41 = 48,8%

Trẻ kể rõ ràng, có trình tự sự việc, hiện tượng cho người khác nghe có thể hiểu được.

10/41= 24,4 %

Trẻ sử dụng được các loại câu đơn, câu ghép, câu khẳng định...thể hiện nhu cầu, mong muốn, suy nghĩ, tình cảm của bản thân.

10/41 = 24,4 %

Trẻ tự tin thể hiện, trao đổi trò chuyện cùng cô hay người lạ.

10/41= 24,4 %

Trẻ đóng vai được các nhân vật trong truyện.

5/41 = 12,2%

Trẻ đọc biểu cảm được các bài thơ, ca dao, đồng dao, hò vè...

10/41 = 24,4%

 

* Đánh giá thực trạng:

Chúng ta biết rằng trẻ 5-6 tuổi là giai đoạn phát triển mạnh mẽ  trên tất cả các lĩnh vực đặc biệt là tư duy và ngôn ngữ để sẵn sàng cho việc học tập và tiếp thu kiến thức ở trường tiểu học. Về mặt ngôn ngữ trẻ đã biết sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ theo các hướng: Nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ; trẻ biết đọc diễn cảm, biết dùng điệu bộ bổ sung cho ngôn ngữ nói; vốn từ và cơ cấu ngữ pháp phát triển.

Qua bảng tổng hợp kết quả cho thấy vốn ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non Hoa Phượng 1 tại thời điểm khảo sát còn nhiều hạn chế. Đa số trẻ mới chỉ nghe, hiểu một số từ, câu đơn giản trong giao tiếp. Đây là rào cản rất lớn khi trẻ lên tiểu học. Do vậy việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ là thực sự cần thiết đòi hỏi nhà trường cần có những biện pháp nhằm tăng cường tiếng Việt cho trẻ.

2. Nội dung nghiên cứu/giải pháp thay thế

2.1. Cơ sở xác lập các biện pháp chỉ đạo tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi

2.1.1. Cơ sở lý luận

*  Một số khái niệm

Biện pháp chỉ đạo: Đó chính là cách làm, cách giải quyết một vấn đề của nhà quản lý bằng cách xây dựng kế hoạch và hướng dẫn thực hiện kế hoạch một cách cụ thể phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị. Trong thực tế, muốn đạt được hiệu quả cao trong công tác quản lý, chỉ đạo chủ thể phải vận dụng tổng hợp các biện pháp tâm lý cũng như biện pháp hành chính - tổ chức, biện pháp kinh tế để  đạt được hiệu quả công việc ở mức độ cao vì mỗi biện pháp đều có những mặt mạnh, mặt yếu riêng. Khi ta sử dụng hài hòa giữa các biện pháp để phát huy sức mạnh và hạn chế mặt yếu của mỗi biện pháp thì sẽ tạo được sức mạnh tổng hợp để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất.

Tăng cường tiếng Việt:  Là các hoạt động nhằm giúp học sinh chưa biết hoặc biết nói ít tiếng Việt có thể học tập các môn học trong hệ thống giáo dục mà tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức. Yêu cầu của tăng cường tiếng Việt là làm thế nào để học sinh dân tộc có thể tiếp nhận nội dung trong chương trình học tùy theo từng cấp học một cách có hiệu quả trong môi trường học tập của địa phương.

Vậy biện pháp chỉ đạo dạy tăng cường tiếng Việt chính là cách làm, cách định hướng và hướng dẫn cho giáo viên áp dụng các phương pháp, biện pháp,  cách thức tác động cụ thể của người dạy và người học lên đối tượng dạy và học qua đó thực hiện nhiệm vụ và mục đích dạy học, đó là cung cấp thêm vốn từ tiếng Việt nhằm mục đích làm giàu vốn Tiếng Việt cho học sinh.

* Nguyên tắc tăng cường tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số

 Về nội dung

- Đảm bảo tính khoa học, đồng tâm phát triển từ dễ đến khó, đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi.

- Đảm bảo phù hợp với kinh nghiệm sống, khả năng của trẻ và hoàn cảnh sống, truyền thống văn hóa của địa phương, dân tộc.

Về phương pháp

- Đảm bảo giao tiếp thường xuyên bằng tiếng Việt

- Đảm bảo chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ thông qua tất cả các hoạt động trong ngày.

- Đảm bảo cho trẻ học tiếng Việt thông qua chơi, trải nghiệm

- Đảm bảo cho trẻ hứng thú, tự tin khi học tiếng Việt.

- Đảm bảo môi trường ngôn ngữ tiếng Việt phong phú, đa dạng

- Đảm bảo tính đến tiếng mẹ đẻ của trẻ.

- Đảm bảo phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình, cộng đồng trong việc chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ.

2.1.2. Cơ sở thực tiễn

* Đặc điểm của trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số khi học tiếng Việt

Trẻ mẫu giáo dân tộc khi học tiếng Việt có những đặc điểm sau:

- Trẻ em mẫu giáo dân tộc thiểu số bắt đầu học tiếng Việt trên cơ sở kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Việt.

-  Môi trường giao tiếp tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số bị thu hẹp cả về không gian lẫn thời gian.

-  Việc học tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số ảnh hưởng của ngôn ngữ thứ nhất và sự giao thoa ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ với tiếng Việt.

-  Sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc, trong đó có khía cạnh ngôn ngữ cũng ảnh hưởng tới việc học tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số.

Thực tiễn cho thấy các em học sinh miền núi, đặc biệt những em học sinh người dân tộc thiểu số chồng chất những khó khăn trong đó rào cản lớn nhất là ngôn ngữ tiếng Việt. Đối với trẻ em miền xuôi, tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ; khi vào lớp một, hầu hết các em đều nghe nói rất tốt, vốn từ của các em về cơ bản đã rất phong phú, có thể nghe - hiểu tốt lời nói của người khác và diễn đạt được những điều mình nghĩ, mình biết. Trong khi đó, ở miền núi, các em học tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai đầy mới mẻ và lạ lẫm, chỉ đến khi đi học các em mới được học và sử dụng tiếng Việt, vốn từ ít, khả năng nghe nói tiếng Việt hạn chế. Hệ quả này là do môi trường giao tiếp tiếng Việt hạn hẹp. Ở nhà, các em được cha mẹ dạy và giao tiếp chủ yếu bằng tiếng dân tộc, bản thân các em không biết tiếng Việt cộng thêm thời gian học mẫu giáo ít, không được tiếp xúc, dạy tiếng Việt thường xuyên. Trong khi đó, đa số giáo viên công tác ở các trường miền núi, nhất là đối với những giáo viên trẻ mới ra trường lại không biết hoặc biết rất ít tiếng dân tộc.

 Tình trạng bất đồng ngôn ngữ giữa người học và người dạy diễn ra khá phổ biến làm cho chất lượng giảng dạy chưa cao. Ngôn ngữ là vỏ của tư duy, là phương tiện giao tiếp và chiếm lĩnh tri thức do đó học sinh sẽ rất khó khăn để học tập nếu không được sẵn sàng về mặt ngôn ngữ. Việc ít hoặc không nói được tiếng Việt càng khắc sâu tâm lí lo sợ, rụt rè, nhút nhát trong giao tiếp của các em. Như vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non ở miền núi, thu hẹp khoảng cách vùng miền, ngay từ đầu phải chú trọng đến phát triển kĩ năng nghe nói tiếng Việt cho học sinh mầm non.

2.2.  Đề xuất các biện pháp chỉ đạo thực hiện

2.2.1. Biện pháp tham mưu, tuyên truyền, chỉ đạo

-  Là cán bộ quản lý phụ trách công tác chuyên môn của nhà trường, cần làm tốt công tác tham mưu với hiệu trưởng nhà trường trong công tác tuyên truyền giáo dục mầm non trong đó đặc biệt quan tâm vấn đề tăng cường tiếng Việt cho trẻ. Nhà trường tham mưu cho UBND xã xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề tăng cường tiếng Việt cho phù hợp với địa phương. Trên cơ sở kế hoạch của UBND xã, nhà trường nghiên cứu, xác định yêu cầu, khung chương trình, để xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện chuyên đề phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị.

- . Nhà trường cần thực hiện tốt công tác dân vận, động viên khuyến khích nhân dân trong xã cũng như trong gia đình tăng cường kỹ năng giao tiếp bằng tiếng phổ thông cho các em trong độ tuổi đến trường dưới nhiều hình thức tuyên truyền. Ban giám hiệu nhà trường làm tốt công tác tuyên truyền tới toàn thể cán bộ giáo viên, phụ huynh và học sinh trong công tác giáo dục trẻ, tạo môi trường tiếng Việt ở mọi nơi, mọi lúc để trẻ có nhiều cơ hội tiếp xúc, làm quen và giao tiếp bằng tiếng Việt. Chủ động trong việc nghiên cứu, triển khai kịp thời, nghiêm túc tinh thần chỉ đạo của các cấp như: Kế hoạch  thực hiện nhiệm vụ năm học;  kế hoạch giảng dạy lồng ghép tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc; kế hoạch dạy tăng cường tiếng Việt trong hè ...  tới toàn thể cán bộ, giáo viên trong đơn vị.

- Thực hiện xây dựng kế hoạch, triển khai, tổ chức thực hiện việc dạy lồng ghép tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc như: 

* Đối với tổ khối: Chỉ đạo cho các tổ khối thảo luận đưa ra các biện pháp giải quyết đồng bộ các vấn đề, các tình huống cụ thể của từng khối lớp trong công tác giảng dạy. Tăng cường công tác dự giờ, rút kinh nghiệm các tiết dạy, đổi mới công tác đánh giá tiết dạy. Việc kiểm tra công tác dạy - học chú trọng vào việc xem xét khả năng nhận thức của cá nhân trẻ để có những điều chỉnh về phương pháp và hình thức dạy học phù hợp. Chỉ đạo các tổ khối cho giáo viên đăng ký các tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin để tạo hứng thú cho học sinh trong các hoạt động. Đổi mới hình thức sinh hoạt chuyên môn, duy trì thường xuyên việc bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của giáo viên. Động viên, tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên trong việc tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ vi tính,  tiếng dân tộc.

* Đối với các tổ chức đoàn thể

Nhà trường phối hợp với các tổ chức đoàn thể xây dựng kế hoạch hoạt động văn nghệ, lễ hội, giao lưu, thăm quan… với tình hình thực tế của nhà trường.  Qua các hoạt động đó giúp trẻ được giao lưu, học hỏi và thể hiện mình. Từ đó, các em sẽ mạnh dạn hơn trong giao tiếp, cung cấp cho các em vốn sống và kỹ năng giao tiếp trong học tập và cuộc sống hàng ngày.

* Đối với giáo viên:

Căn cứ vào thực tế, số lượng trẻ còn hạn chế tiếng Việt để xem xét thời lượng tăng cường tiếng Việt trong ngày, xây dựng nội dung tăng cường tiếng Việt cho trẻ, linh hoạt sử dụng các tình huống dạy trẻ tiếng Việt, đối với trẻ 5-6  tuổi khi dạy tăng cường tiếng Việt, giáo viên phải chú ý rèn kỹ năng dạy trẻ nói câu đầy đủ, phù hợp với bảng từ, chú trọng sửa lỗi cho trẻ ở những từ phát âm khó, sửa tật nói ngọng, rèn cho trẻ tự tin trong giao tiếp tiếng Việt. Giáo viên rèn luyện giao tiếp cho trẻ mọi lúc, mọi nơi. Trong sinh hoạt chuyên môn,  chú trọng  thảo luận, trao đổi, rút kinh nghiệm về nội dung dạy lồng ghép tiếng Việt cho học sinh. Thường xuyên theo dõi đánh giá chất lượng học tập của học sinh để có những điều chỉnh  kịp thời. Tăng cường công tác tự học tiếng dân tộc để phục vụ công tác giảng dạy trên địa bàn mình phụ trách. Tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hoạt động trải nghiệm, sáng tạo để tạo sân chơi và môi trường giao tiếp tiếng Việt cho trẻ.

2.2.2.  Biện pháp chỉ đạo đội ngũ giáo viên thực hiện một số phương pháp dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi

* Phương pháp dạy trẻ học tiếng Việt theo trình tự nghe - hiểu - thực hành.

 Trẻ học hiểu nghĩa của từ và câu trước khi nói chính xác từ và câu đó.

Yêu cầu đối với giáo viên không cấm trẻ nói tiếng mẹ đẻ và cần tránh dạy trẻ nói mà không hiểu nghĩa. Thường xuyên sử dụng đồ dùng trực quan, hành động với đồ vật, bằng ngôn ngữ hình thể để diễn đạt một cách cụ thể dễ hiểu nhất giúp trẻ nắm bắt dễ dàng và hiểu một cách chính xác vấn đề.

Ví dụ: Cô giới thiệu cho trẻ biết cái ‘ quạt mo” trong bài đồng dao “thằng Bờm”  thì cô kết hợp cho trẻ xem cái quạt mo và cho trẻ nhắc lại nhiều lần; hay để giải thích từ “ phe phẩy quạt mo” trong bài thơ “ Giữa vòng gió thơm” cô dùng quạt mo khẽ quạt nhẹ nhàng để trẻ hiểu thế nào là phe phẩy quạt mo…

Giáo viên thường xuyên trao đổi với trẻ bằng cách chọn từ ngữ sao cho ngắn gọn, dễ hiểu kết hợp hướng dẫn giúp trẻ hiểu những vấn đề, nhiệm vụ gần gũi đối với trẻ.

Giáo viên cần luôn chú ý phát rõ âm để trẻ dễ tiếp thu, dạy trẻ cần phải kèm tranh minh họa, vật thật đôi khi cần có cả sự giải thích, khi sử dụng từ ngữ cô lựa chọn câu từ ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với trẻ. Chú ý cung cấp từ mới cho trẻ phải nhắc đi nhắc lại giúp trẻ nghe rõ và hiểu vấn đề một cách cụ thể.

Tạo cho trẻ năng lực bắt chước kết hợp âm thanh, trẻ thường xuyên học nhắc lại những gì nghe được từ cô và các bạn, đây cũng là một trong những biện pháp trẻ dễ học dễ hiểu nhất: Ví dụ: Trong giờ học giáo viên đưa một bức tranh và hỏi trẻ tranh vẽ gì? Một số trẻ trả lời “ Tranh quê hương” cô khẳng định là đúng và cho cả lớp và cá nhân bắt chước nói giống cô và các bạn cứ như vậy trẻ học rất nhanh và hiệu quả cũng rất cao.

Nghe với những hình ảnh động: Các hình ảnh đính kèm những ngôn ngữ làm cho trẻ ‘hiểu’ được ít nhiều nội dung của vấn đề, mà không cần phải ‘dịch’ từng câu.

Ví dụ: Thường xuyên mở các bài hát, đoạn video về các con vật, các hiện tượng tự nhiên hay các sự kiện… cho trẻ xem, trẻ chăm chú phán đoán và trẻ cũng dần hiểu một số câu từ trong những đoạn video, clip đó.

Luyện nghe cho trẻ cũng rất quan trọng, luyện cho trẻ nghe được các âm vị, cấu trúc âm tiết khác nhau, nghe biểu cảm về phương diện âm thanh.

Mặc dù có thể hơi khó với trẻ nhưng đọc hay kể chuyện cho trẻ là một trong những cách tốt nhất giúp trẻ làm quen với ngôn ngữ tiếng Việt. Thông qua việc dành thời gian đọc, kể cho trẻ nghe từ đó giúp trẻ nhận biết những điều kỳ diệu mà ngôn ngữ đem lại và sự thích thú của trẻ đối với những điều kỳ diệu đó sẽ biến trẻ thành người ham học.

Yêu cầu ở nội dung này cô cần phải kiên trì, thường xuyên trò chuyện giao tiếp cùng trẻ, có nhiều biện pháp giúp trẻ nghe hiểu một cách chính xác nội dung cô cần truyền đạt. Do vậy giáo viên cần luôn chú ý đến lời nói phải chính xác, rõ ràng, mạch lạc, tránh nói lắp, nói ngọng.

Lựa chọn nội dung giáo dục và hoạt động phù hợp với khả năng của trẻ.

Ví dụ: Lựa chọn những bài thơ, bài hát ngắn gọn dễ hiểu, tìm những bài thơ, ca dao, đồng dao giúp trẻ dễ đọc dễ nhớ và cũng thuận lợi trong việc khai thác nội dung.

Luôn chú ý hệ thống câu hỏi đàm thoại với trẻ để đảm bảo tính phù hợp, chính xác và có tính mở chú trọng lấy trẻ làm trung tâm.

Trẻ học tiếng Việt gắn với những tình huống thực tế.

Hình ảnh, trò chơi, nhạc họa, diễn kịch… nói chung là các hoạt động nhằm giúp trẻ tham gia vào môi trường sử dụng tiếng Việt một cách tự nhiên, không gượng ép. Các hoạt động đa dạng sẽ giúp trẻ từng bước hình thành phong cách riêng trong học tập và sử dụng tiếng Việt. Phong cách riêng chính là nền tảng của chất lượng và hiệu quả học tập tiếng Việt cho trẻ em. Nắm bắt được đặc điểm này giáo viên cần không ngừng học sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để tạo các tình huống và đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội dung từng chủ đề.

Trẻ tham gia trò chơi: Bờm thích gì

* Phương pháp sử dụng trực quan hành động

 Trực tiếp sử dụng các giác quan để tiếp xúc với đối tượng.

- Cho trẻ tiếp xúc với vật thật: Là hình thức cô cho trẻ được tiếp xúc với từng vật cụ thể qua đó giúp trẻ nhận biết, tri giác vật một cách khái quát và cụ thể từng chi tiết, từ được gọi chính xác với vật và đặc điểm của vật. Trong khi xem xét, cô giáo kết hợp chỉ vào vật hoặc từng chi tiết, đặc điểm của vật với từ được gọi (trong trường hợp không có vật thật, cô giáo cho trẻ tiếp xúc với đồ chơi, tranh ảnh….)

- Quan sát: Là dạy trẻ sử dụng những giác quan, bộ máy vận động của mình để tích lũy dần dần những kinh nghiệm, những hình ảnh, những biểu tượng và kỹ xảo ngôn ngữ. Khi tổ chức quan sát, không nên chỉ hướng sự chú ý của trẻ vào các sự vật và hiện tượng riêng lẻ, mà cần phải làm cho trẻ thấy được mối quan hệ giữa chúng. Điều đó giúp trẻ suy nghĩ mạch lạc và biểu hiện những ấn tượng của mình bằng lời nói trôi chảy.

Hình thức trực quan:

+  Tham quan: Là con đường đưa trẻ đến gần sự vật, hiện tượng. Trẻ có thể quan sát các sự vật... và mở rộng nhận thức của mình. Nội dung tham quan phải đáp ứng được sở thích của trẻ. Buổi tham quan không mang tính chất của một bài học. Sau buổi tham quan cần tổ chức ngay các biện pháp củng cố các nhận thức và ấn tượng thu lượm được… thông qua việc trao đổi, trò chuyện...

+  Xem phim: Là hình thức sử dụng máy móc, thiết bị hiện đại vào quá trình dạy trẻ, tạo điều kiện cho trẻ có thể quan sát, tham quan cảnh vật mà trẻ không thể đi đến nơi xem được hoặc xem lại cảnh quay trong quá khứ. Xem phim cũng góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ nếu cô giáo lựa chọn phim phù hợp với nhận thức, sở thích… của trẻ kết hợp với tổ chức trò chuyện, đàm thoại sau đó.

Nhóm phương pháp trực quan được sử dụng nhằm vào các mục đích phát triển ngôn ngữ sau:

+ Rèn luyện phát âm cho trẻ. Dạy cho trẻ cách thức phát âm. Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát các loại hoa, cây cối…, cô giáo yêu cầu trẻ gọi tên các bộ phận của cây... Nếu trẻ chỉ vào cành cây mà nói là cằn cây hoặc chỉ vào lá mà nói thành ná thì cô giáo phải sửa ngay lỗi phát âm sai này của trẻ.

+ Hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ. Ví dụ: Sau khi cho trẻ xem phim về thế giới động vật, cô giáo trò chuyện với trẻ, yêu cầu trẻ kể lại những gì đã xem được. Muốn kể lại, trẻ phải huy động từ ngữ và sử dụng từ chính xác.

+ Củng cố kiến thức, củng cố vốn từ. Ví dụ: Trong hoạt động ngoài trời, cô giáo có thể chỉ vào bồn hoa hình vuông và hỏi trẻ “Bồn hoa có hình gì?” Nếu trẻ không nhớ, cô giáo có thể nói với trẻ “Bồn hoa hình vuông. Nó có 4 cạnh bằng nhau”.

+ Phát triển ngôn ngữ mạch lạc. Tập cho trẻ diễn đạt... Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát hiện tượng gió, trẻ nhìn lên vòm cây và nói: Gió thổi rất mạnh lam cây đung đưa…

- Khi trực quan, trẻ tích lũy dần dần những kinh nghiệm, những hình ảnh, những biểu tượng và dùng phương tiện ngôn ngữ để củng cố và diễn đạt lại.

Ví dụ: Các giờ hoạt động khám phá môi trường, ngoài việc cung cấp kiến thức cho trẻ cô cũng đồng thời tăng cường tiếng Việt cho trẻ một cách rất hiệu quả. Thông qua những hình ảnh, mô hình, vật thật trẻ được sờ, được nếm, được ngửi, được nghe cùng với những từ ngữ có chọn lọc cô cung cấp kiến thức và từ mới cho trẻ : Với hoạt động làm quen các loại quả trẻ biết tên quả, quả có màu gì, ăn có vị gì, con thích quả gì. Cô nhắc lại những đặc điểm rồi cho trẻ nhắc lại cứ như vậy trẻ học từ mới một cách tự nhiên theo nhiều hướng khác nhau. Với chương trình giáo dục mầm non thực hiện chủ đề nhánh theo tuần vậy nên trong tuần trẻ được tiếp xúc làm quen nhiều loại quả với nhiều hình thức khác nhau như: xem tranh, xem hình ảnh trên video, quả thật và qua sự miêu tả của cô…. ở các hoạt động vui chơi và hoạt động khác nữa. Trẻ dần khắc sâu ngôn ngữ tiếng Việt cùng với tư duy của mình.

Hình ảnh cho trẻ tìm hiểu về các loại rau, củ, quả

Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

Những hình ảnh đẹp những hiệu ứng của hình ảnh có tình huống biến hóa, những video sôi động là cách lôi cuốn trẻ, trẻ có thể ngồi hàng giờ bên video, giáo viên sưu tầm những nội dung phù hợp với chủ đề cho trẻ khám phá.

Tiết kể chuyện có sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin

*   Phương pháp sử dụng tiếng mẹ đẻ để dạy tiếng Việt

Để tạo sự mạnh dạn, tự tin cho trẻ khi đến trường mầm non, giáo viên tạo cơ hội cho trẻ được nói bằng tiếng mẹ đẻ với các bạn cùng lớp, các anh chị tiểu học và những người xung quanh. Các chủ đề nói chuyện là các công việc diễn ra hằng ngày xung quanh như: cách chào hỏi khi gặp người lớn, công việc của bố mẹ, anh chị em trong gia đình và bản thân, về thời tiết, về các vật nuôi, cây trồng, về bản làng…

Trong quá trình nhận thức, khi được sử dụng tiếng mẹ đẻ, trẻ sẽ biết chính xác hơn bản chất của các sự vật và hiện tượng, bởi vì trẻ hiểu được nghĩa trước khi học một khái niệm mới. Giáo viên không biết tiếng dân tộc thì có thể nhờ cha mẹ, học sinh tiểu học, đại diện hội cha mẹ học sinh… hỗ trợ trò chuyện với trẻ. Cô giáo cho trẻ nghe và kể lại các câu chuyện trong chương trình, tóm tắt truyện bằng tiếng dân tộc để trẻ hiểu được ý nghĩa, nội dung và cho trẻ kể lại bằng tiếng mẹ đẻ sau đó cho trẻ nghe và kể lại bằng tiếng Việt. Ngoài ra có thể sưu tầm một số bài thơ, bài hát có nội dung gần gũi sang tiếng dân tộc để trẻ đọc, trẻ hát. Sau đó cho trẻ đọc, hát bằng cả tiếng dân tộc và tiếng Việt.

* Phương pháp sử dụng trò chơi

Trẻ mầm non học qua chơi vì trò chơi luôn mang lại hứng thú cho trẻ, nên việc tổ chức cho trẻ chơi để học tiếng Việt là rất cần thiết. Giáo viên tổ chức các trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi âm nhạc, múa hát…

Ví dụ trò chơi “ Đoán xem cô tả về ai” Giáo viên nói một số câu ngắn, tả đặc điểm nổi bật của bạn nào đó trong lớp và khuyến khích trẻ nói xem cô tả về bạn nào qua đó trẻ học được từ, câu tiếng Việt.

Trò chơi tập thể giúp trẻ được nói tiếng Việt tốt hơn

2.2.3.  Biện pháp hình thành sự tự tin cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi

Chắc chắn là trẻ cũng rất thích khi được cô giáo và bạn bè động viên. Nhưng những lời động viên, khen ngợi đó sẽ có tác dụng lớn hơn khi chúng được nói ra dựa trên những việc trẻ đã làm tốt hoặc đã nỗ lực để thực hiện. Một khi trẻ đã đạt được một mục tiêu nào đó thì cô giáo khen ngợi chúng cả về thành quả lẫn quá trình nỗ lực để đạt được thành quả đó.

Ví dụ: Sau khi trẻ nặn được một quả cam cô nói với trẻ rằng “ Con nặn đẹp rồi con hãy vuốt cho quả mịn hơn nữa đi” hoặc khi trẻ đọc thơ cô khen trẻ và khuyết khích các bạn động viên trẻ. Cô chú ý động viên khen ngợi trẻ kịp thời và hướng cho trẻ đến với sự chính xác của vần đề.

Tuy nhiên, cần phải chọn thời gian thích hợp để trẻ học làm những việc này. Thời gian vui chơi, hoạt động khám phá là thích hợp nhất vì trẻ có thể làm từ từ và ít căng thẳng hơn.

Sự tự tin ở trẻ sẽ tăng lên mỗi khi chúng học được một kĩ năng mới hay vượt qua một mốc quan trọng nào đó. Vì vậy cô giáo thường xuyên có thể giúp trẻ gây dựng sự tự tin bằng cách tạo cho chúng thật nhiều cơ hội để rèn luyện và tập thành thục các kĩ năng mới. Giáo viên cho trẻ tự do thể hiện và luôn ở bên để động viên tinh thần của chúng, nhắc chúng tiếp tục cố gắng. Luôn tỏ ra thích thú và vui mừng mỗi khi trẻ thể hiện là chúng đã tập thành thạo một kĩ năng mới. Khen ngợi trẻ mỗi khi trẻ đạt được một mục tiêu nào đó hoặc nỗ lực làm việc gì đó.

Ví dụ: Trong các hoạt động vui chơi hay ôn luyện giáo viên mời cá nhân trẻ lên giới thiệu về bản thân và chủ đề trẻ đang học, mời trẻ lên đọc thơ hay ca hát, mở các bản nhạc vui nhộn cho trẻ cùng vui nhảy múa theo như các Video erobic mầm non…

Trẻ tự tin thể hiện bài đồng dao thằng Bờm

Trẻ thường xuyên thực hành sẽ trở nên tiến bộ rất nhiều vì vậy giáo viên thường xuyên trao đổi với trẻ nhằm giúp trẻ được trò chuyện với cô ở mọi lúc mọi nơi.

Ví dụ: Giờ đón trẻ cô trò chuyện với trẻ “ Ai đưa con đi học”, “ Sáng nay con ăn gì”, “ Ai buộc tóc cho con đẹp thế”…Giờ trả trẻ “ Khi về nhà gặp bố mẹ con sẽ làm gì?”, “ Con chào bà như thế nào, con chào ông như thế nào?....”

Cô luôn phải là tấm gương cho trẻ soi vào, ở đây mỗi động tác, lời nói cử chỉ điệu bộ của cô cũng là những bài học cho trẻ, muốn trẻ tự tin cô giáo luôn phải có sự sáng tạo tìm tòi đưa ra các cơ hội giáo dục cho trẻ khác nhau.

Cô giáo luôn gần gũi với trẻ và cần kiên nhẫn chờ đợi, khích lệ trẻ bày tỏ nhu cầu thay vì phỏng đoán và đáp ứng ngay.  Điều này sẽ giúp trẻ từ từ trở nên một chủ thể sáng tạo, biết tự quyết định, chọn lựa thay vì chỉ có những phản ứng máy móc, tự động, chỉ biết nhắc lại.

Ví dụ: Cô luôn chú ý đến những thái độ khác biệt của trẻ và gợi hỏi: con cần gì nào, con thích gì, con đang tìm gì vậy, con cần cô giúp gì không? nhiều trẻ chưa thể hiện mong muốn nhu cầu của mình thì cô hỏi những trẻ khá hơn “ Bạn muốn gì vậy con” trẻ tự hỏi bạn và đưa ra yêu cầu giúp bạn từ đó cô cho trẻ nhắc lại mong muốn của mình, đây là một hình thức rất cần thiết vì trẻ biết phải đưa ra những mong muốn bằng tiếng Việt thì mới có thể chủ động trong những lần sau

Trong một ngày cô quan tâm đến nội dung hoạt động ngoài trời đây là khoảng thời gian trẻ sẽ vừa chơi vừa học, bằng những hoạt động vui thú như leo trèo, chạy nhảy vui chơi cùng cô và các bạn… trẻ được reo vui hò hét một cách thoải mái. Cô giáo bày các trò chơi cho trẻ cùng tham gia bằng những hình thức đơn giản nhưng trẻ lại được chơi và trải nghiệm những từ ngữ tiếng Việt mới.

Ví dụ: Với trò các trò chơi dấu dép cô cho trẻ đi tìm và chỉ hoặc nói địa điểm cô dấu “ dép cô dấu ở đâu nhỉ?” “ Cô dấu dép ở gốc cây đào” … đây là cách hướng dẫn trẻ chơi mà học từ mới trẻ cũng hiểu luôn ý nghĩa của những từ mới học và chỉ những lần sau trẻ tự tìm và nói địa điểm cô dấu một cách rõ dàng và tương đối đầy đủ.

 2.2.4.  Biện pháp phối kết hợp với phụ huynh.

Đối với những trẻ nhỏ ở nhà chưa biết hát biết múa bằng tiếng Việt nhưng sau một thời gian đến lớp trẻ biết hát, đọc thơ và kể lại chuyện cho bố mẹ nghe về những bài học ở lớp bằng tiếng phổ thông. Cán bộ quản lý nhà trường cần làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh thông qua nhiều hình thức như: Qua các cuộc họp phụ huynh, qua bảng tuyên truyền, qua ban đại diện cha mẹ trẻ em, mạng xã hội….Đồng thời động viên, khuyến khích, nhắc nhở giáo viên quan tâm đến công tác tuyên truyền, trao đổi thường xuyên với phụ huynh về tình hình học tập của trẻ, đặc biệt trao đổi về khả năng nói tiếng Việt của trẻ, và yêu cầu phụ huynh dạy trẻ thêm tiếng Việt ở nhà:

Ví dụ:  Hướng dẫn cho phụ huynh khi ăn cơm anh chị hãy chỉ cho các cháu biết những món ăn trong gia đình, khi tắm cho cháu chỉ cho các cháu các bộ phận trên cơ thể, khi trẻ đi học về nhắc con chào ông bà….

Tuy trẻ đến lớp với cô hàng ngày nhưng cô không thể tập trung vào mỗi cá nhân và hiểu trẻ bằng bố mẹ. Vì vậy phối hợp với gia đình trong việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ lại càng tốt hơn. Qua các cuộc họp phụ huynh giáo viên thông báo kết quả học của mỗi cháu cho phụ huynh nắm và đặc biệt không quên cho phụ huynh biết khả năng tiếp thu kiến thức bài học bằng ngôn ngữ tiếng Việt của mỗi cháu ra sao và từ đó thống nhất với phụ huynh xây dựng nội quy của trường mầm non là “Tất cả mọi người khi đến trường, lớp đều phải nói bằng tiếng Việt” và nhà trường rất mong phụ huynh hợp tác trong việc cung cấp tiếng Việt cho trẻ thường xuyên ở nhà.

Ví dụ: Khi phụ đón trẻ cô trao đổi về nội dung bài học và gợi ý cho bố mẹ về kiểm tra trẻ: Hôm nay cháu học làm quen với các con vật, anh chị hãy về nhà hỏi cháu bằng tiếng Raglai và cho cháu dịch tiếng Việt xem cháu biết nhiều không nhé, yêu cầu phụ huynh dạy thêm cho trẻ...Từ những lời nói ấy đã thúc đẩy phụ huynh quan tâm đến con em mình hơn, chăm lo cung cấp vốn tiếng Việt ở nhà cho trẻ nhiều hơn.

Trao đổi với phụ huynh trong giờ đón trẻ

2.2.5.  Biện pháp xây dựng môi trường học tiếng Việt cho học sinh dân tộc

Môi trường lớp học đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy và học, nó quyết định phần lớn tới chất lượng dạy học của nhóm lớp. Đối với các lớp dạy chương trình tăng cường tiêng Việt thì việc tạo môi trường lớp học lại càng có ý nghĩa lớn lao hơn đối với trẻ.

* Môi trường trong lớp học

Môi trường giáo dục được xây dựng phù hợp với nội dung giáo dục của từng độ tuổi, từng chủ đề phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu, nội dung giáo dục nói chung và nội dung dạy tăng cường tiếng Việt nói riêng của các lớp.
 Môi trường của các nhóm, lớp phải tạo cho trẻ có nhiều cơ hội học tập và được hoạt động với môi trường tiếng Việt, cho dù trẻ học trong lớp đơn hay lớp mẫu giáo ghép. Ví dụ: các đồ dùng các nhân của trẻ, các thiết bị trong lớp được dán ký hiệu bằng các chữ cái; các mảng tường có sử dụng đa dạng các kiểu chữ cái; các chữ cái và chữ số treo/ dán trong lớp.

Việc sắp xếp các góc hoạt động trong lớp phải hợp lí, thuận tiện và có đủ không gian cho trẻ hoạt động , các góc yên tĩnh như góc ( học tập, nghệ thuật) phải xa góc động ( góc xây dựng, góc phân vai). Sử dụng các giá, bảng để làm hàng rào ngăn cách các góc chơi nhưng phải có độ cao vừa phải để không làm che khuất tầm nhìn. Thường xuyên thay đổi nội dung các góc chơi trong từng chủ đề nhằm tạo sự hứng thú, kích thích trẻ tham gia hoạt động.

 Các nhóm, lớp tạo ra môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt tích cực thông qua nhiều hình thức như: tổ chức các giờ học tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vào các buổi chiều trong tuần, tổ chức các trò chơi ngôn ngữ, các hoạt động giáo dục khác có tăng cường sự giao lưu, giao tiếp bằng tiếng Việt giữa trẻ - trẻ, giữa trẻ - cô và những người xung quanh.

Tăng cường các phương tiện, đồ vật như xuất hiện chữ dán tên các góc hoạt động, các kệ, giá để đồ chơi, học liệu, các đồ vật, đồ chơi, tranh ảnh, cây cảnh, tên sản phẩm của trẻ, thẻ tên của trẻ, biểu bảng có chữ…bằng chữ cái.

Tăng cường các hoạt động cho trẻ được tiếp xúc với chữ cái như “đọc” sách truyện tranh, họa báo, làm bộ sưu tập chủ đề cùng cô…Tổ chức các hoạt động “viết” như viết tên trẻ, viết thư, viết thiệp…

Riêng đối với lớp mẫu giáo ghép, môi trường tiếng Việt đã quan tâm đến tính phù hợp với sự khác biệt về nội dung giáo dục của các độ tuổi, về văn hóa của các dân tộc có trong lớp. Đặc biệt là môi trường giao tiếp tiếng Việt tăng cường sự giao tiếp giữa trẻ các độ tuổi với nhau (cùng độ tuổi, khác độ tuổi) và có sự đan xen về độ tuổi cũng như trình độ tiếng Việt để trẻ có nhiều cơ hội học tập và chia sẻ, không kỳ thị hoặc phân biệt đối xử.

    Trang trí lớp học đẹp, tạo môi trường chữ cái để trẻ học tiếng Việt

* Môi trường ngoài lớp học

Cần chú ý thiết kế xây dựng các góc hoạt động cho trẻ ngoài lớp học,( như góc thiên nhiên, khu phát triển vận động..) tận dụng các điều kiện cơ sở vật chất sẵn có của trường, tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương để giao nhiệm vụ cho trẻ, khuyến khích trẻ giao tiếp, tương tác với nhau bằng tiếng Việt.

Ví dụ: Xây dựng góc thiên nhiên, vườn rau của bé, khu chợ quê… để cho trẻ được chơi với cát, nước, chăm sóc cây để cho trẻ được chơi theo nhóm và khuyến khích trẻ giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt trong quá trình trẻ chơi.

Xây dựng khu chợ quê và vườn rau của bé để trẻ thăm quan, trò chuyện

3.  Đánh giá đề tài

Đề tài "Một số biện pháp chỉ đạo tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non Hoa Phượng 1" đã được nhà trường đánh giá và xếp loại.  

Trong quá trình triển khai, chỉ đạo chuyên môn tại đơn vị bản thân tôi đã chỉ đạo giáo viên áp dụng trong công tác tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi tại đơn vị. Qua quá trình thực hiện một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số tại trường mầm non Hoa Phượng 1 đã mang lại hiệu quả đáng khích lệ. Biểu hiện cụ thể kết quả trên trẻ qua bảng thống kê sau:

               Nội dung

Kết quả khảo sát đầu năm

Kết quả khảo sát cuối năm

Trẻ nghe, hiểu và thực hiện được các yêu cầu trong hoạt động tập thể

   15/41 = 36,6%

35/41= 85,40%

Trẻ nghe hiểu nội dung truyện kể, truyện đọc phù hợp với độ tuổi

    12/41= 29,3%

20/41= 48,8%

Trẻ sử dụng được các từ chào hỏi, tạm biệt, xin phép, cảm ơn, xin lỗi....đúng ngữ cảnh.

     20/41 = 48,8%

39/41=95,12%

Trẻ kể rõ ràng, có trình tự sự việc, hiện tượng cho người khác nghe có thể hiểu được

10/41= 24,4 %

20/41=48,8%

Trẻ sử dụng được các loại câu đơn, câu ghép, câu khẳng định...thể hiện nhu cầu, mong muốn, suy nghĩ, tình cảm của bản thân.

10/41 = 24,4 %

20/41 = 48,8%

Trẻ tự tin thể hiện, trao đổi trò chuyện cùng cô hay người lạ

10/41= 24,4 %

20/41 = 48,8%

Trẻ đóng vai được các nhân vật trong truyện

5/41 = 12,2%

15/41 = 36,6%

Trẻ đọc biểu cảm được các bài thơ, ca dao, đồng dao, hò vè...

10/41 = 24,4%

20/41= 48,8%

4. Tổ chức thu thập minh chứng

* Để thực hiện đề tài tôi tiến hành thu thập các minh chứng như:

- Các minh chứng liên quan đến thực hiện các kế hoạch chỉ đạo tăng cường tiếng Việt cho trẻ như: Kế hoạch thực hiện dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thiểu trong hè của đơn vị theo tinh thần quyết định số 1008/QĐ –TTg, ngày 02/6/2016 về đề án “ Tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn đến năm 2025”;  Kế hoạch soạn giảng của giáo viên thể hiện nội dung lồng ghép tăng cường tiếng Việt; Kế hoạch mở chuyên đề giao lưu tiếng Việt khối mẫu giáo 5-6 tuổi;

- Các hình ảnh minh chứng cho việc áp dụng các biện pháp chỉ đạo tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi tại đơn vị;

- Bảng tổng hợp kết quả khảo sát trên trẻ sau khi áp dụng các biện pháp chỉ đạo thực hiện.

 

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Việc cung cấp tăng cường vốn tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số là một vấn đề rất khó cần có sự chỉ đạo sáng suốt của người quản lý trường học và sự yêu thương gần gũi trẻ của người giáo viên, tạo cơ hội cho trẻ  trẻ giao lưu trò chuyện với cô, nghe hiểu lời nói của cô. Giáo viên cuốn hút trẻ tham gia vào các hoạt động phát triển ngôn ngữ thực sự hứng thú được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục ở lớp và tích hợp vào một số hoạt động khác trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ. Để mang lại hiệu quả thiết thực trong việc phát triển ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ cần sự chung tay của tập thể sư phạm nhà trường của các cấp, các ngành, sự phối hợp nhịp nhàng với phụ huynh học sinh nhằm hướng đến mục tiêu chung là giúp trẻ phát triển một cách toàn diện, sẵn sàng về tâm lý, nhận thức, ngôn ngữ để bước vào lớp 1. Với những nghiên cứu từ lý luận và thực tiễn về tiếng Việt với trẻ em chúng tôi mong rằng những biện pháp tăng cường tiếng Việt đã nêu sẽ giúp ích cho công tác dạy tăng cường tiếng Việt trong các trường có học sinh là trẻ người đồng bào dân tộc góp phần tạo điều kiện để trẻ phát triển tốt hơn vốn ngôn ngữ tiếng Việt nhằm đưa chất lượng giáo dục nhà trường từng bước nâng cao. Đồng thời những biện pháp này cũng có thể áp dụng ở bất kỳ trường mầm non nào có trẻ độ tuổi 5-6 tuổi là người dân tộc thiểu số.

2. Kiến nghị

2.1. Kiến nghị lãnh đạo cấp trên       

-  Đề nghị các cấp lãnh đạo quan tâm nhiều hơn nữa về cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị dạy học phù hợp với lứa tuổi, nhất là đồ dùng đồ chơi và tài liệu dạy tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số. 

2.2. Kiến nghị Ban giám hiệu nhà trường

- Ban giám hiệu nhà trường cần xây dựng một kế hoạch cụ thể, theo dõi sát sao các chương trình chăm sóc giáo dục trẻ, quan tâm chỉ đạo việc dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số.

- Tuyên truyền tác dụng của việc tổ chức dạy tiếng Việt cho trẻ để đông đảo phụ huynh hưởng ứng và ủng hộ nhiệt tình, trong vấn đề tạo dựng cảnh quan môi trường trong lớp đẹp, hấp dẫn đối với trẻ, lôi cuốn trẻ hứng thú đến trường ngày càng đông.

- Nhà trường chủ động tham mưu với các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương, để được quan tâm hỗ trợ trong xây dựng môi trường hoạt động dạy tiếng Việt cho trẻ ngày thêm phong phú, hấp dẫn.

2.3. Kiến nghị giáo viên

Để thực hiện có hiệu quả việc dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc trong giảng dạy mỗi giáo viên cần: 

-  Nắm chắc nội dung chương trình của từng khối lớp.

-  Vận dụng phương pháp giảng dạy linh hoạt phù hợp với đối tượng vùng miền,  giáo viên có quyền lựa chọn và làm chủ kiến thức giảng dạy cho học sinh theo chuẩn nội dung kiến thức kỹ năng quy định.

- Giáo viên thường xuyên gần gũi với trẻ, tạo cơ hội đtrẻ tích cực tham gia vào các hoạt động học tiếng Việt.

- Giáo viên cần tích cực học hỏi, tham khảo tài liệu sách báo, ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy các hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ.

- Kết hợp với cha mẹ học sinh tận dụng nguồn nguyên vật liệu sẵn có của địa phương như: vỏ ốc núi, vỏ trứng gà- vịt, nan tre- nứa, quả cầu lông, vỏ ống cầu lông, vỏ hộp các loại nước giải khát, các hộp xốp, vỏ hộp thuốc, .… làm đồ dùng có ghi tên đồ vật tương ứng giúp trẻ phát triển tiếng Việt.

- Tích cực áp dụng nhiều biện pháp tăng cường tiếng Việt có hiệu quả, phù hợp điều kiện thực tế để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, trong đó đặc biệt quan tâm đến trẻ 5-6 tuổi để chuẩn bị vốn ngôn ngữ cho trẻ vào lớp 1./.

 

                                                                                                     NGƯỜI VIẾT

 

                                                                                Nguyễn Thị Nho

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Các văn bản chỉ đạo của Sở giáo dục Khánh Hòa và Phòng giáo dục Khánh Vĩnh về công tác tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non.
  2. Cổng thông tin điện tử, http://mầm non.com.vn; http:// giáo án violet.com.
  3. Giáo trình phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em, NXBGD, Hà Nội.
  4. Hoàng Kim Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức (2001), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, NXB ĐHQG Hà Nội.
  5. Lý luận và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em ( 2013), Nxb Đại học Huế.
  6. Nguyễn Xuân Khoa (1997), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, NXB Giáo dục.
  7. Nguyễn Quang Ninh, Bùi Kim Tuyến, Lưu Thị Lan, Nguyễn Thanh Hồng (2001), Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ, NXBGD.
  8.  Nghiên cứu khoa học công nghệ giáo dục mầm non, Nxb Bộ giáo dục và đào tạo.
  9. Sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 0 – 6 tuổi ( 2008), Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội,
  10.  Phạm Thị Ngọc Trâm – Bùi Thị Kim Tuyến. Hướng dẫn chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi vùng dân tộc thiểu số, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam